Hiển thị các bài đăng có nhãn Hội An - Tản mạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hội An - Tản mạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015


Nhà văn Đinh Lê VũNhà văn Đinh Lê Vũ

“Đừng hôn ở Hội An”, tác phẩm bao gồm 9 truyện ngắn và 29 tạp văn là những câu chuyện, những lát cắt đi ngang cuộc đời của những con người khác nhau trên cùng một mảnh đất- Hội An.

Nhà thơ Chế Lan Viên có viết:
“Yêu ở đâu thì yêu
Về Hội An xin chớ
Hôn một lần ở đó
Một đời vang thủy triều”
Tác giả Đinh Lê Vũ thì “khẳng định”: “Đừng hôn ở Hội An!”
Hẳn đây không phải là một lời khuyên, cũng không hề là lời thách thức.
Tập sách mới của Đinh Lê Vũ được cho là ấn tượng vì tác giả dành tình yêu sâu nặng với mảnh đất chôn rau cắt rốn Hội An
Vâng, đây chỉ là một cuốn sách về những câu chuyện của những con người từng sinh ra và lớn lên ở Hội An, từng có rất nhiều kỉ niệm, từng rất yêu nơi ấy và rồi cho đến khi bạn đọc xong tác phẩm thì tình yêu đó sẽ chảy tràn đến con tim bạn. Nếu tình yêu ấy lây lan, bạn làm sao không thể không… hôn.
Nhưng, nếu trót phải lòng một nụ hôn, một nụ hôn không phải ở một nơi nào khác mà là Hội An thì như lời tác giả thú nhận: “…mãi cho đến nụ hôn của mối tình sau cuối ở Hội An. Sau nụ hôn đó, tôi lập gia đình…” Bạn đã vỡ lẽ thêm điều gì chưa? Hãy dừng lại một chút với tác phẩm, chuyện đã đến nước… khó mà đùa được rồi.
“Đừng hôn ở Hội An”, tác phẩm bao gồm 9 truyện ngắn và 29 tạp văn là những câu chuyện, những lát cắt đi ngang cuộc đời của những con người khác nhau trên cùng một mảnh đất- Hội An.
 “Mùa lụt” có nụ cười hiền hòa của cô bạn nhỏ nhà đối diện, có dòng nước lũ dâng cao trước cửa nhà trở thành dòng sông cho cô cậu thả thuyền giấy vào đó để nó trôi đi. Bây giờ, sau bao năm người cũ ngơ ngác tìm lại “mùa lụt” năm cũ, nhưng bây giờ mọi thứ đã khác…
Như chẳng hề quen, dòng đề nghe đến nao lòng, vậy mà “Có lần anh hỏi cô: Có bao giờ em viết về anh không? Cô chỉ cười cười mà nói rằng thường thì viết về một người nào đó em mau quên lắm, còn người nào em không viết được thì sẽ đọng lại lâu.”
Đêm Phố Cổ, Thuận Tình, Trung thu, Nụ hôn đầu hay La đà gió, nhờ vào nguyên cớ là nỗi nhớ về một người mà nương về lại Hội An, với phố.
Dẫu là người yêu nhau, trở thành đôi uyên ương đẹp giữa lòng Hội An, hay giữa những đôi lứa mà tình yêu vẫn đang là một dấu chấm lửng, thì bên cạnh và sau tất cả, vẫn là phổ, vẫn là Hội An cổ xưa, bình lặng và êm đềm.
Tạm dừng lại những truyện ngắn để nhấn nhá nhiều hơn với những tình yêu khác, trăn trở, tự hào, hoài niệm và hàm ơn về những hình ảnh, con người đã làm nên một Hội An gần gũi, yên bình, tác phẩm còn vẽ nên một bức tranh sinh động về cuộc sống, trong đó có tình gia đình, có tình hàng xóm láng giềng, tình bè bạn…
Có người gắn bó sâu sắc, có người chỉ đến rồi đi, nhạt nhòa như chưa từng xuất hiện, là cô Bốn hay dì Sáu. Họ đã sống ở Hội An, mảnh đất đẹp cũng như lòng người hiền lành và tử tế; cảm thông, yêu thương, tôn kính, quý trọng là những câu chuyện về bài học nhân cách đáng để bạn được lắng lòng.
Nhà văn Đinh Lê Vũ
Hội An không chỉ là phố cổ yên bình, mà còn là quê hương, nơi gói ghém tuổi thơ và những gì đẹp đẽ nhất.
Về Tết, về những ngày giáp Tết trong Mơ Tết quê nhà, Chào năm cũ, Trừ tịch, Những ngày mồng một của thời thơ ấu, Trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết, Món Tết của ngoại tôi là những món ăn chuẩn bị cho ngày Tết, là những công việc cần phải làm không mang một nghĩa vụ nào cả mà là niềm hạnh phúc khi được làm. Bây giờ có mong lắm cũng không làm được, chỉ đành nhớ.
Dẫu sao thì phố vẫn đẹp, lòng người vẫn từ tốn khi để mình chìm vào ngày xưa, vì những kí ức quá gần, quá thật nên nương vào miền nhớ ấy, lòng bạn sẽ trẻ mãi.
Ở giữa lòng Hội An, mọi thứ đều là tặng phẩm mà con người đã được tạo hóa ban tặng và chính họ đã sống, đã yêu, đã trân quý hết lòng vì những món quà ấy.
Cho nên “Đừng hôn ở Hội An” là một tặng phẩm đặc biệt để đưa bạn đến với Hội An, trở về với Hội An.
Nếu bạn là người con của Hội An, bạn sẽ phải ồ lên vì sung sướng bởi bạn sẽ có cảm nhận được niềm hạnh phúc, cảm xúc tự hào về mảnh đất đã nuôi dưỡng bạn, nâng niu tắm đẫm tâm hồn bạn qua từng con chữ của “Đừng hôn ở Hội An”.
Nếu bạn là người đã từng biết đến Hội An, hẳn bạn sẽ không khỏi nao lòng, khi được thêm một lần nữa trở về với nơi quen thuộc ấy, qua những câu chuyện, thủ thỉ, nhẹ nhàng mà như rót vào tai, dù bây giờ có thể bạn đang ở một nơi xa xăm nào đó.
Hội An muôn đời vẫn là cái thị xã nhỏ bé, yên bình và dịu dàng, nhưng luôn nuôi cho bạn cảm xúc yêu cuộc sống nồng nàn và tràn trề năng lượng.
Cho nên, với “Đừng hôn ở Hội An”, tôi chắc rằng bạn sẽ thu về một món hời khá lớn cho hành trình yêu thương của mình.
Nguồn tin: Mai Hoa (cand.com.vn)

Ông Đỗ Phú NuôiÔng Đỗ Phú Nuôi

Tôi thăm cựu xã đội Trần Văn Nhung thì bất ngờ gặp Đỗ Phú Nuôi. Nghe Trần Văn Nhung giới thiệu bạn tù Côn Đảo, tôi hỏi anh bị bắt khi nào? Địch bắt khi cặp chân tôi bị gãy - Đỗ Phú Nuôi đưa tay chỉ cái chân gỗ nói. Tôi nhận ra bàn tay trái của anh có ba ngón tay cũng bị thương, mỗi ngón chỉ còn một nửa…

Chậm rãi, Đỗ Phú Nuôi kể, tôi chỉ huy một tổ du kích Điện Thái đánh diệt một tiểu đội Pác Chung Hy ở Ngã tư Nông Sơn - Điện Phước. Trận đánh thắng ngon ơ không anh em nào bị thương nhưng hai ngày sau thì bị liên quân Mỹ - Sài Gòn và chư hầu đổ quân càn thì tôi bị nguyên một quả pháo gãy luôn hai cái chân. Đồng đội băng bó cầm máu, đưa tôi xuống hầm chứa thương rồi du kích cùng bộ đội mở đường máu thoát ra. Nằm dưới hầm đến ngày thứ hai thì tôi bị bắt…
Ông Đỗ Phú Nuôi.Ảnh: H.D.L
Ông Đỗ Phú Nuôi.Ảnh: H.D.L
Một tên nhìn tôi có vẻ khinh khi, hỏi: Mày có phải Việt Cộng không? Tôi mà Việt Cộng chi. Việt Cộng thì sức mấy nằm trong hầm chứa thương cho các ông bắt. Một tên đến, lấy chân giày đá chân tôi, hỏi: Mày có nghe quân đội Việt Nam Cộng hòa kêu gọi chiêu hồi không? Tôi nói: Có. Hắn hỏi: Sao mày không về với chính nghĩa Quốc gia? Cục tức cố dằn xuống bỗng trồi lên tận cổ, tôi chỉ mặt hắn, nhìn khắp người hắn, hỏi: Cầm cây súng trong tay và mặc bộ đồ trong người, mày biết là đồ của ai không? Hắn trợn mắt. Và thế là hai sĩ quan đứa đạp, đứa đá tôi túi bụi. Tôi ngất xỉu. Lúc tỉnh lại không thấy hai sĩ quan mà thấy mấy người lính Sài Gòn nhìn tôi. Khi một người lính bước lại gần, tôi năn nỉ: Anh ơi, khát quá, cho tôi nước. Một lát sau người lính bưng lại cho tôi một ca lưng nước lạnh. Tôi gục đầu biết ơn. Anh ta dặn: Máu ra nhiều, uống ít thôi. Biết vậy nhưng tôi nốc hết nửa ca rồi lịm đi lúc nào không biết. Lúc tỉnh dậy, trước mắt tôi là những người nói tiếng Mỹ...
Một người Việt đến hỏi tôi: Anh làm gì, ở đơn vị nào? Dạ, tôi là dân. Dân sao lại bị thương mà ở trong vùng toàn là lính Việt Cộng? Anh nên thành thật khai báo. Dạ. Đầu năm 1968, vợ tôi bị bom chết. Tôi một thân một mình bồng ba đứa con dại chạy tránh bom đạn. Thấy một số gia đình bà con gồng gánh ôm con chạy xuống Vĩnh Điện, Hội An, Đà Nẵng, một số thì bám lại ruộng vườn cuốc đất trồng rau, tôi theo bà con bám cái vườn mà sống qua ngày. Nhiều lúc ác liệt quá cũng muốn dẫn con chạy xuống Vĩnh Điện, nhưng nghĩ xuống đó rồi làm chi nuôi ba đứa con dại, đứa lớn mới tám tuổi. Thế rồi cuối năm 1968, bị một loạt bom, trúng cái hầm của người hàng xóm làm chết 10 người trong số có 3 đứa con của tôi. Hôm ấy tôi đang ở ngoài biền bói, nếu không cũng đi theo 3 đứa con xuống tìm mẹ chúng nó rồi. Từ đó tôi ôm cái gùi chạy theo du kích, khi bộ đội về thì chạy theo bộ đội xin ăn. Vì bom, pháo, cày ủi không cách nào trồng tỉa thứ gì để có cái ăn mà sống đành bám theo bộ đội. Anh ta hỏi tôi: Bộ đội có cho anh ăn không? Có. Họ biết tôi ngại vì phải ăn chực nên giao tôi một việc làm để tôi có thể vui vẻ ăn cơm của bộ đội. Họ giao cho anh việc chi? Ngày ngày tôi ngồi bên miệng hầm dưới lùm bói hễ có thư từ gì thì họ bảo tôi bỏ thư vào túi đi. Đi đâu? Có ba nơi tôi thường đến. Đến đó đưa thư rồi có thư thì đem về. Họ viết gì trong thư: Họ dán kín tôi đâu dám khui ra. Anh biết đơn vị đó là gì không? Dạ, nghe nói là trung đoàn độc lập. Thật ra, tôi biết đó là Trung đoàn 36 - bộ đội chủ lực của khu. Người hỏi tôi là một thiếu úy, có tên và quân hàm trên áo ngực, nhớ chỉ có một hoa mai, không nhớ tên chi. Hình như các câu trả lời của tôi anh ta cho là thành thật và tin tôi là một người dân.
Bãi biền ven sông Thu Bồn.
Bãi biền ven sông Thu Bồn.
Qua ngày hôm sau thì một viên trung úy đến lúc tôi đang ngồi trên giường, anh ta chào hỏi tử tế, trên tay cầm một xấp giấy. Anh ta nói: Nghe anh bị bắt đưa về đây hôm qua, tôi đến thăm anh. Trong hồ sơ anh khai anh là dân. Anh trung thành với chính nghĩa Quốc gia thì sẽ đưa anh và gia đình ra vùng Quốc gia để tránh bom đạn. Trước khi thả, tôi hỏi anh ba câu.
 Câu thứ nhất: Tại sao lính Việt Cộng đến ở trong dân thì dân thương, còn lính Quốc gia đến ở thì dân sợ và ghét? Thưa trung úy, lính Việt Cộng đến đâu thì xem mình như là con em trong gia đình, làm bất cứ việc gì có thể làm giúp đỡ người dân. Có gạo thì san sẻ cho dân chứ không ăn của dân. Còn lính Quốc gia đến thì dân lo nơm nớp. Mặc dầu trong đó có nhiều anh lính rất hiền, dễ thương. Nhưng nhiều anh có gà thì bắt gà làm thịt, có khi bắt cả con heo xẻ thịt nấu ăn mà không thèm hỏi dân, xin dân.
Được rồi, tôi hỏi câu thứ hai: Anh thấy cả hai bên Việt Cộng và Quốc gia, ai mạnh ai yếu. Dạ, câu này ý anh nói là tương quan lực lượng hai phe phải không? Đúng rồi. Theo cái nhìn tại chỗ của tôi thì tôi thấy bên Việt Cộng chỉ có súng tiểu liên, trung liên, đại liên, thỉnh thoảng thấy có súng cối, súng B.40. Không biết trên núi họ có vũ khí gì nữa. Còn bên Quốc gia thì ngoài các loại súng trang bị cho lính, cả lính Quốc gia, lính đồng minh, lính Mỹ, còn có đại bác, xe tăng, máy bay phản lực, máy bay B.52, nghe đâu ngoài biển có cả Hạm đội 7. Rõ ràng về tương quan lực lượng thì quá chênh lệch.
Được rồi, tôi hỏi câu thứ ba: Vậy thì, kết thúc chiến tranh này, ai thắng? Tôi trả lời thế này: Dạ, thưa trung úy. Người lính bên Việt Cộng chết thì họ gọi là hy sinh, là hoàn thành nhiệm vụ. Gia đình, bạn bè họ sẽ buồn, rồi cũng qua đi. Còn người lính bên Quốc gia mà chết thì coi như cả nhà anh ta mất đi một nguồn thu hàng tháng, vợ con anh ta sẽ rơi vào khó khăn, túng thiếu. Riêng cái chuyện này, khi xáp mặt ngoài chiến trường thì tinh thần hai người lính hoàn toàn khác nhau. Chiến thắng không chỉ tùy thuộc vào vũ khí mà còn quyết định ở tinh thần.
Tôi nói đến đó thì thấy gương mặt viên trung úy tỏ ra không hài lòng. Và tôi nhận ra mình ngu. Anh ta hỏi, giọng hơi gắt: Vậy thì ai sẽ thắng?  Dạ, theo tôi bên chính nghĩa sẽ thắng. Ý anh là Việt Cộng sẽ thắng. Dạ, tôi không dám nói Việt Cộng sẽ thắng. Khắp nơi làng quê bị bom pháo tơi bời, bộ đội, du kích chết cũng nhiều, bị thương cũng nhiều, bị bắt cũng nhiều. Dạ, tôi nói ai chính nghĩa sẽ thắng. Anh ta đập bàn tay xuống mặt bàn: Vậy thì kẻ nào là phi nghĩa? Dạ, kẻ nào đến một nước khác bắn dân thường, đốt nhà dân là phi nghĩa. Thôi được rồi. Viên Trung úy đưa mắt nhìn vào tập giấy trên tay, nói: Thấy hồ sơ khai báo, kết cung ban đầu, anh là thường dân. Nhưng qua ba câu trả lời thì tôi biết chắc anh không phải là dân thường. Viên trung úy nói vậy rồi bỏ đi. Trong lúc đó tôi thấy liên tục các ca thương được đưa vào nằm quanh nơi tôi nằm. Viên trung úy đi rồi tôi thấy sợ. Hôm sau, một tên làm cung đến nói tôi: Anh là Việt Cộng, anh khai là dân, nhưng anh có làm liên lạc cho bộ đội. Vậy thì anh nhận là giao liên để tôi kết cung. Vào trại tù binh...
 Năm 1973, Đỗ Phú Nuôi được trao trả về sân bay Lộc Ninh. Tháng 8.1975, từ Trại thương binh nặng Sầm Sơn - Thanh Hóa chuyển về Trại thương binh nặng Cẩm Hà - Hội An. Về đây thì biết gia đình chỉ còn mình mẹ, năm ấy mẹ Đỗ Phú Nuôi đã ngoài tuổi 70, từ khu dồn về quê, sống dựa bà con trong làng. Đỗ Phú Nuôi xin được về với mẹ. Có chế độ thương binh nặng và chế độ chăm sóc, Đỗ Phú Nuôi lấy phần chế độ chăm sóc đủ nuôi mẹ. Thấy tình cảnh hai mẹ con khổ quá, thanh niên thôn Long Hội chặt cây làm cái trại trên nền nhà cũ cho hai mẹ con che mưa che nắng. Sống bên mẹ thật hạnh phúc, song không thể ăn vào đồng lương, Đỗ Phú Nuôi quyết định phá bói đất nà trồng bắp. Sau mấy chiến dịch khai hoang, phục hóa, bà con đã phá bói đất nà trồng tỉa, vẫn còn bãi bói nhưng là bãi xa, họ sợ có mìn chưa đụng tới. Đỗ Phú Nuôi gỡ mìn, phá bói. Mẹ lo cho con trai vấp phải mìn. Đỗ Phú Nuôi nói, con là vua gỡ mìn của Mỹ, lấy pháo lép của Mỹ làm mìn tự tạo đánh Mỹ mẹ không phải lo. Cứ sáng dậy, mẹ nấu cho ăn một ruột no, lấy cái bọc bỏ theo mấy củ chóc, bấy giờ vùng đất phù sa ven sông Thu Bồn có nhiều chóc hoang, bỏ theo chai nước, vác cái cuốc, cầm cái rựa ra bãi bói chặt, đào, trưa vào lùm cây che nắng ăn mấy củ chóc, uống chai nước nghỉ một lúc lại đội nón cầm cuốc, rựa ra chặt, đào, cuốc cho đến chiều tối. Mẹ anh vui nhìn con trai trên bãi bắp trĩu trái, bên đám đậu nở hoa... Anh lúc nào cũng lạc quan, yêu đời. Đỗ Phú Nuôi tâm sự: Điều làm mẹ tôi mừng hơn là nghe tôi xin mẹ được cưới vợ. Mẹ tôi sống với hai vợ chồng tôi được 8 năm. Mẹ rất vui có được hai thằng cháu nội...
Nguồn tin: HỒ DUY LỆ (baoquangnam.com.vn)

Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2015


Tết Nguyên TiêuTết Nguyên Tiêu

Một bài thơ về Tết Nguyên Tiêu

Dạo chơi phố Hội đêm rằm
Lung linh trăng sáng, lồng đèn, hoa đăng
Dạo quanh con phố lang thang
Ngắm nhìn phố Hội trăng rằm Nguyên Tiêu
Cặp đôi dạo phố tình yêu
Gia đình dạo phố thấy điều ước ao
Còn ta nhẹ bước về đâu?
Chỉ là thanh thản tâm vào an nhiên
Thấy em bé nhỏ hồn nhiên
Hoa đăng em bán mấy tiền vậy em?
Dạ anh em bán mười ngàn
Đây em, anh thả ước mong trong đời
Vào chùa khấn nguyện đôi lời
Bóc thăm may mắn chuyện đời năm nay
Quẻ thăm bốn bốn trung bình
Năm nay bình ổn, gia đình lập thôi
Bồng bềnh con nước cứ trôi
Thuyền ta lướt nhẹ nhìn đời trong đêm
Mẹ con thuyền lái kiếm thêm
Hai ông bà cụ chèo đêm kiếm tiền
Nguyên Tiêu phố Hội bình yên
Dạo chơi ngắm cảnh phố huyền đêm trăng.
Nguồn tin: Hưng Nguyễn 04/03/15

Bà Tùng Lâm cùng con trai nhà văn Nguyễn Đông ThứcBà Tùng Lâm cùng con trai nhà văn Nguyễn Đông Thức

(QNO) - Họ là những người phụ nữ nổi danh trong lĩnh vực chính trị, văn chương, học thuật Việt Nam thế kỷ XIX, XX.

Người mở đầu nền thơ ca đất Quảng
Sinh ra ở nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng họ đều là những tài hoa trong văn chương học thuật. Nền thơ ca đất Quảng bắt đầu giữa thế kỷ XVIII với tên tuổi Phạm Lam Anh nữ sĩ. Bà sinh khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII tại huyện Diên Phước, dinh Quảng Nam nay thuộc huyện Điện Bàn, nổi tiếng văn chương từ thuở nhỏ, được giới văn lâm thời bấy giờ xưng tụng.
Điều kỳ lạ ở người nữ sĩ tài hoa khai sinh cho thơ ca đất Quảng là thơ bà chỉ mới tìm lại được có ba bài thơ chữ Hán, nhưng cả ba bài đều viết về ba danh thần, hào kiệt mà cuộc đời đầy bi kịch: Khuất Nguyên, Kinh Kha, Hàn Tín và một bài thơ chữ Nôm: Vịnh cảnh gần sáng. Bà từng tự hiệu Ngâm Si cùng chồng viết một tập thơ lấy tên Chiến cổ đường thi (ngôi nhà thơ chống lại cái xưa).
GS. Nguyễn Văn Hạnh nhận định về Phạm Lam Anh nữ sĩ trong “Suy nghĩ về thơ Đất Quảng”: “Trong cuộc đời riêng, trong tình yêu và hôn nhân bà đã sống chân thật, tự do và khí phách thế nào thì trong thơ bà ta bắt gặp nhân cách bản lĩnh ấy sự cảm nhận, suy nghĩ, không theo thói thường, có tính chất phá cách ấy. Phải chăng đó cũng là một cái gì tiêu biểu cho tâm hồn và tính cách con người Quảng?”.
Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa
Năm 2001, cái tên Huỳnh Thị Bảo Hòa mới bắt đầu được biết đến từ công trình sưu tầm, nghiên cứu của Lại Nguyên Ân. Theo giới nghiên cứu văn học, Huỳnh Thị Bảo Hòa chính là người viết tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên bằng chữ quốc ngữ. Năm 1927, tiểu thuyết Tây phương mỹ nhơn của bà ra đời (76 trang, Nhà in Bảo Tồn, Sài Gòn), kể lại câu chuyện có thật xảy ra tại Tam Kỳ (Quảng Nam) nói về mối tình chung thủy của cô gái Pháp lấy chồng Việt. Năm 2001, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, sau khi bất ngờ phát hiện bộ tiểu thuyết này ở Thư viện Quốc gia Hà Nội, đã viết bài trên Tạp chí Văn học khẳng định nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ.
Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa.
Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa.
Từ điển Văn học (NXB Thế giới, 2004) viết về Huỳnh Thị Bảo Hòa cùng bộ tiểu thuyết của bà: “Tiểu thuyết được xuất bản vào năm 1927 (Nhà in Bảo Tồn, Sài Gòn) vài năm sau Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ở miền Bắc, tác phẩm của Huỳnh Thị Bảo Hòa theo mạch khai thác cốt truyện từ thực tế đời sống Việt Nam chứ không theo trào lưu mô phỏng tiểu thuyết phương Tây. Tuy nhiên, bà đã chọn cho câu chuyện một kết cấu theo kiểu tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc…
Đánh giá vị trí nhà văn và cuốn tiểu thuyết của bà, Huỳnh Thúc Kháng, Tản Đà, Bùi Thế Mỹ đều cho rằng bà đã có công “vỡ núi mở đường”, “là ngọn cờ tiên phong cho đạo quân nương tử”, “là cuốn tiểu thuyết thứ nhất” của nữ giới Việt Nam viết bằng tiếng Việt. Tác phẩm là sự thể nghiệm đầu tiên và dường như cũng là cuối cùng đối với hình thức nghệ thuật chương hồi của tiểu thuyết quốc ngữ”.
Cũng năm 1927, bà viết kịch bản Huyền Trân công chúa, tác phẩm được hình thành sau thời gian bà làm bầu gánh hát bội tại nhà hát Hòa Bình, TP.Đà Nẵng. Theo Thy Hảo Trương Duy Hy trong cuốn “Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa - Người phụ nữ viết tiểu thuyết đầu tiên” (NXB Văn Học, 2003) và Nguyễn Sinh Duy trong “Quảng Nam và những vấn đề sử học” (NXB Văn hóa-Thông tin, 2006), bà còn là người phụ nữ đầu tiên viết nghiên cứu, khảo luận. Đó là cuốn Chiêm Thành lược khảo xuất bản năm 1936 với lời đề Tựa của chủ bút Tạp chí Nam Phong Phạm Quỳnh. Đây cũng là cuốn sách đầu tiên bằng quốc ngữ viết về dân tộc và đất nước Chăm-pa.
Nữ đại biểu Quốc hội đầu tiên
Là vợ của nhà yêu nước Phan Thanh, bà Lê Thị Xuyến (1909 - 1996), quê Đại Hòa, Đại Lộc, là một nhà cách mạng, nhà hoạt động xã hội Việt Nam. Năm 1928, vừa tốt nghiệp bậc Thành Chung vừa đỗ bằng sư phạm. Bà Lê Thị Xuyến là phụ nữ đầu tiên ở Quảng Nam có được tấm bằng ấy và được giữ lại làm giáo viên của Trường Đồng Khánh. Cùng với chồng, bà tham gia nhiều hoạt động cách mạng, yêu nước. Gia đình bà tại Hà Nội là đầu mối liên lạc của Đảng Cộng Sản Đông Dương, cũng là nơi lui tới bà chuyện của các đồng chí lãnh đạo Đảng thời bấy giờ, như Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Võ Nguyên Giáp…
Chủ tịch đầu tiên của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Lê Thị Xuyến.
Chủ tịch đầu tiên của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Lê Thị Xuyến.
Sau khi chồng mất, bà đưa con về Quảng Nam, tiếp tục hoạt động cách mạng. Những ngày Cách mạng Tháng Tám, Lê Thị Xuyến hăng hái tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở làng Bảo An, phủ Điện Bàn. Lê Thị Xuyến là một trong những tri thức được Ủy ban Nhân dân cách mạng Trung Bộ mời ra tham gia bộ máy chính quyền Trung Bộ và được cử giữ chức Ủy viên Ủy ban Nhân dân cách mạng Trung Bộ, phụ trách Nha cứu tế xã hội.
Năm 1946, Lê Thị Xuyến được Mặt trận Việt Minh tỉnh Quảng Nam giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội khoá I (1946-1960) và đã trúng cử với số phiếu cao, trở thành một trong 15 đại biểu Quốc hội đầu tiên của tỉnh Quảng Nam và là một trong mười người nữ đầu tiên của cả nước được bầu làm đại biểu Quốc hội. Bà là đại biểu nữ duy nhất được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội, phụ trách Ủy ban Văn hóa Xã hội của Quốc hội. Sau đó, Lê Thị Xuyến liên tục là đại biểu Quốc hội các khoá II, III, IV, V và cũng được bầu làm Ủy viên Ban Thường vụ các khoá IV, V; Ủy viên Ban Văn hóa - Xã hội của Quốc hội. Bà cũng là Chủ tịch  đầu tiên của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Nữ nhà báo “gỡ rối tơ lòng”
Bà Tùng Long, người tiên phong cho các mục “nhỏ to tâm sự”, gỡ rối tơ lòng” cho nữ giới trên nhiều tờ báo, tạp chí, chuyên san về phụ nữ tại miền Nam trong những năm thập niên 1960 của thế kỷ XX. Bà tên thật Lê Thị Bạch Vân (1915 - 2006) tại Đà Nẵng, quê nội tại Hội An. Năm 1932, bà theo cha vào Sài Gòn. Năm 1935, bà bắt đầu viết báo. Trong sự nghiệp viết lách của mình, Bà Tùng Long để lại hơn 400 truyện ngắn, 60 tiểu thuyết. Bà là chủ bút tuần báo Tân Thời, phụ trách mục Gỡ rối tơ lòng trên Nhật báo Sài Gòn mới, phụ trách mục Tâm tình cởi mở trên nhật báo Tiếng Vang, Thư ký tòa soạn tuần báo Phụ nữ diễn đàn. Tuy vậy, cây bút này không bao giờ nhận mình là nhà văn, hay một nghệ sĩ. Bà xem mình đơn giản chỉ là người kể chuyện.
Bà Tùng Long và con trai - nhà văn Nguyễn Đông Thức.
Bà Tùng Long và con trai - nhà văn Nguyễn Đông Thức.
Trong “Hồi ký Bà Tùng Long” (xuất bản năm 2002), có đoạn nhà văn, nhà báo Nguyễn Đông Thức kể về mẹ mình: “Hàng đêm tôi cứ thấy mẹ tôi chong đèn ngồi viết, không nghỉ đêm nào, không đi du lịch bất kỳ đâu dù chỉ một ngày. Hết ba trang feuilleton (truyện dài kỳ) cho báo này lại chuyển qua ba trang feuilleton cho báo khác. Cao điểm có khi mẹ viết cùng lúc 4 tiểu thuyết cho bốn tờ báo. Rồi trả lời thư tâm tình của bạn đọc. Những câu chuyện rối như tơ vò mà sao mẹ gỡ ra quá nhẹ nhàng, vừa gỡ vừa ghi chép để dành đề tài cho những cuốn tiểu thuyết sau”.
LÊ QUÂN

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015


Hội AnHội An

Tôi đến phố cổ Hội An khi trời đã tắt nắng. Mặc dù biết mình rất bất lịch sự, nhưng tôi không thể ngừng hét lên sung sướng vì quá ưng vẻ đẹp của mảnh đất này.

Tôi từng được nghe kể rất nhiều về vẻ cổ kính, trầm mặc của Hội An. Được biết rất nhiều thông tin rằng Hội An là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất trên bản đồ du lịch Việt Nam. Nhưng cho tới khi “mục sở thị”, quả thực tôi vẫn thực sự sửng sốt vì Hội An đẹp hơn rất nhiều so với tưởng tượng.

Cầu An Hội rực rỡ đèn lồng

Hành trình khám phá Hội An của tôi bắt đầu từ 7 giờ tối. Người bạn là dân Hội An chính gốc đã “khuyến cáo” tôi chỉ có khoảng 3 giờ đồng hồ để lang thang ngắm phố cổ, mua sắm và thưởng thức những món ngon nổi tiếng nơi đây. Bởi quán xá ở Hội An thường đóng cửa khá sớm.
Ấn tượng đẹp đẽ đầu tiên của tôi về Hội An là vẻ lung linh của cầu An Hội dưới ánh đèn lồng. Những chiếc đèn lồng đủ màu sắc làm không chỉ làm cho cây cầu thêm duyên dáng, khiến con sông Hoài thêm chất thơ, mà còn khơi gợi được cảm xúc rất sâu lắng trong lòng du khách.
Phố bên sông Hoài

Nếu như đèn lồng được ví như “đặc sản” Hội An thì những chiếc đèn hoa đăng chính là “món gia vị” không thể thiếu trong “bữa tiệc” ánh sáng lung linh của đêm phố Hội. Đèn hoa đăng được bán rong rải rác khắp hai bờ sông Hoài với giá chỉ khoảng 10.000 đồng/3chiếc.
Người Hội An nói rằng, một chiếc đèn hoa đăng thả xuống dòng sông sẽ xóa đi một muộn phiền và biến một điều ước của bạn thành hiện thực. Dẫu không phải là người mê tín, nhưng tôi cũng không thể từ chối được thú vui “rất Hội An” này.
Nằm ngay bên bờ sông Hoài, đường Bạch Đằng chứa đựng rất nhiều nét văn hóa đặc trưng của Hội An. Dãy quán cóc san sát nhau trên con đường này chính là nơi cực kỳ lý tưởng để bạn thưởng thức hàng loạt món ẩm thực Hội An nổi tiếng như cao lầu, mì quảng, cơm gà, bánh bao, bánh vạc và đủ loại chè…
Sau khi no bụng, bạn lại có thể đi tìm những phút giây thư giãn tinh thần tại sân khấu hát bài chòi. Có thể thấy rằng hát bài chòi đã đem lại không khí sôi nổi giúp khu phố cổ thêm phần sinh động mà vẫn không làm mất đi vẻ đẹp yên bình vốn có.
Cách cầu An Hội chỉ vài bước chân là chùa Cầu. Ngôi chùa nổi tiếng này có thiết kế khá đặc biệt bởi nó chính là cây cầu nối hai bờ một khe nước chảy xuyên qua lòng phố cổ. Bên cạnh đó, mái ngói âm dương huyền bí của chùa Cầu vẫn được biết đến như một biểu tượng của Hội An trong nhiều thế kỷ qua.
Ngoài đường Bạch Đằng, phố cổ Hội An còn ba con đường chính: Lê Lợi, Trần Phú, Nguyễn Thái Học. Thả bộ chầm chậm trên những con phố nhỏ uốn lượn mềm mại, ngắm nhìn những ngôi nhà cổ trầm mặc, bạn sẽ cảm thấy như mình đang lạc vào một không gian rất lạ: vừa hiện đại, vừa xa xưa.
Trên đường Trần Phú và Nguyễn Thái Học, bạn sẽ tìm mua được rất nhiều món đồ lưu niệm đúng chất Hội An như quạt lụa, đèn lồng, đặt may cấp tốc những bộ đầm, bộ vest hay ghé thăm galaxy trưng bày ảnh, tranh đặc sắc về Hội An.
Những quán cà phê được trang trí bằng đèn lồng lung linh, huyền ảo

Bởi Hội An là một mảnh đất “sống” nhờ du lịch nên người dân nơi đây tỏ ra rất có kinh nghiệm trong cách cư xử với du khách thập phương. Đa phần các cửa hàng ở Hội An đều đón khách lịch sự và gần gũi.
Bạn có thể ướm thử, hỏi giá, mặc cả thoải mái và cuối cùng quyết định không mua, nhưng người bán hàng vẫn luôn tiễn bạn bằng nụ cười rất thân thiện.
Những ngôi nhà cổ cũng là điểm tham quan không nên bỏ qua. Bạn sẽ được chủ nhà mời vào dùng trà và kể cho bạn nghe những câu chuyện về tuổi thọ cả trăm năm của ngôi nhà.
Có một điều khá thú vị là thay vì việc bán vé tham quan, chủ nhà sẽ đề nghị bạn tùy tâm đóng góp tiền vào một chiếc thùng để hỗ trợ họ bảo tồn và tu sửa những chứng nhân lịch sử này. 
Quả đúng như lời người bạn tôi đã nói, quán xá Hội An đóng cửa rất sớm. Khi đồng hồ điểm 10 giờ đêm, rất nhiều khách du lịch, đặc biệt là khách Tây vẫn còn lang thang trên đường thì quán xã đã đóng cửa gần hết.
Dẫu đang trên đà phát triển du lịch nhưng dường như Hội An vẫn giữ được sự chừng mực của một nền văn hóa truyền thống phương Đông, để không bị những loại hình dịch vụ hút khách làm nhộn nhạo, xô bồ.
Ai đó đã nói rằng Hội An giống như một thiếu nữ tuổi đôi mươi dịu dàng, êm ái rất dễ làm say lòng người. Nhưng “cô gái đẹp” này luôn giữ trong mình những quy tắc nề nếp, gia giáo nên sẽ "về nhà trước giờ giới nghiêm".

 
Những cậu bé…
 
… cô bé bán đèn hoa đăng bên sông Hoài
 
Âm nhạc truyền thống bài chòi rất có sức hút với khách du lịch
 
Chùa Cầu – “viên ngọc” giữa lòng Hội An
 
Những con đường đẹp mộc mạc, bình yên
 
vẻ trầm mặc trong một ngõ phố
 
Một cửa hàng bán đèn lồng
Nguồn tin: Linh San - Ảnh: Seiya (thanhnien)

Xuân Ất MùiXuân Ất Mùi

Tết Nguyên Đán là ngày hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau và là ngày lễ tưng bừng, nhộn nhịp của cả dân tộc.Từ những thế kỷ trước, từ đời Lý – Trần – Lê, ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng.


Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, nó mang đậm nét văn hóa dân tộc sâu sắc và độc đáo, phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người và thiên nhiên theo chu kỳ vận hành của vũ trụ.
Chữ Nguyên có nghĩa là bắt đầu, chữ đán có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Đồng thời, tết cũng là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ, tri ân ông bà tổ tiên.
Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, Tết là do xuất xứ từ “tiết” (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, điều đó có ý nghĩa rất đặc biệt đối với một nước thuần nông như nước ta.
Theo tín ngưỡng dân gian, bắt đầu từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì” người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ các vị thần linh có liên quan đến nông nghiệp như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước… Người nông dân cũng không quên ơn các loài vật đã cùng họ sớm hôm vất vả như trâu, bò, gia súc, gia cầm và các loại cây lương thực, thực phẩm đã nuôi sống họ.
Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên Đán, đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có phong tục hằng năm, mỗi khi năm hết, Tết đến dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả người xa xứ cách hàng ngàn ki-lô-mét vẫn mong được về sum họp dưới mái ấm gia đình trong ba ngày Tết, được khấn vái dưới bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà, ngôi mộ, nhìn lại nơi mà một thời bàn chân bé dại đã tung tăng và mong được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương nơi chúng ta cất tiếng khóc chào đời.
Mấy tiếng “Về quê ăn Tết” không chỉ là khái niệm đi về, mà đằng sau nó là cả một quá trình hành hương về với cội nguồn, về nơi chôn nhau cắt rốn. Không thế thì làm sao Huỳnh Văn Nghệ có cảm hứng để lưu truyền cho hậu thế hai câu thơ bất hủ “Từ thuở mang gươm đi mở cõi, ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”.
Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam, ngày Tết xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho xã hội; tình thầy trò, bè bạn cố tri, ông mai bà mối đã tác thành cho đôi lứa.. Tết cũng là dịp đúc kết mọi hoạt động liên quan đến một năm qua, chào đón một năm mới với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng.
Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống mang tính toàn dân. Vì vậy vào những ngày cuối năm, mọi hoạt động đều hướng vào Tết, chuẩn bị cho Tết. Các ngành, các cấp đều có kế hoạch cho ngày hội đặc biệt này. Từ thương nghiệp đến giao thông vận tải, văn hóa đến an ninh công cộng, nhất là các ngành dịch vụ thì cứ là “bận như Tết”. Các công sở, xí nghiệp, trường học cũng đều có kế hoạch tham gia Tết, đồng thời giải quyết những nhu cầu đặt ra trong nội bộ đơn vị.
Rõ nét nhất là không khí chuẩn bị nhộn nhịp khẩn trương, từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân ở xa về…
Theo tập tục, đến ngày 23 tháng Chạp là ngày đưa tiễn ông Táo về Trời tâu việc trần gian thì không khí Tết bắt đầu rõ nét. Ngày xưa, dưới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức hàng tỉnh, hàng huyện đều nghỉ lễ từ ngày 23 tháng Chạp đến ngày khai hạ (từ 7 tháng Giêng).
Ngày nay, trong thời kỳ hiện đại, việc tổ chức nghỉ Tết, vui Tết được quy định hợp lý, khoa học hơn – Vừa văn minh, lịch sự, không lãng phí thời gian, phù hợp nếp sống công nghiệp vừa bảo lưu được bản sắc văn hóa dân tộc và ý nghĩa nhân sinh của ngày Tết thì không có gì thay đổi. Đó cũng là nét đẹp truyền thống văn hóa dân gian cần được giữ gìn và phát huy.

Nguồn tin: sưu tầm

Giới thiệu bản thân

Popular Posts

Recent Posts

Text Widget